Lược sử đức Phật Thích Ca

Phúc Trung

I.- Đức Phật một nhân vật lịch sử

Đức Phật Thích Ca tên là Tất Đạt Đa (Siddhartha) họ Cù Đàm ( Gautama ) thuộc tộc Thích Ca, ngài là một vị Thái tử, con vua Tịnh Phạn (Suddhodana ) và Hoàng hậu Ma Gia ( Maya ), ở nước Ca Tỳ La Vệ ( Kapilavatthu ), xưa thuộc Ấn Độ, nay thuộc về nước Népal.

Hoàng hậu Ma Gia, một hôm nằm mộng thấy có con voi trắng có sáu ngà từ trên không hiện ra rồi nhập vào thân bà, sau đó bà thụ thai. Đến gần ngày sanh nở, theo tục lệ Ấn Độ xưa, Hoàng hậu phải về nhà của cha mẹ ḿnh để sanh nở, trên đường về nước Câu Ly ( Koliya ), Hoàng hậu ghé qua vườn cảnh Lâm Tỳ Ni ( Lumbini ), nghỉ chơn. Trong khi dạo vườn hoa, Hoàng hậu Ma Gia dơ tay lên, định hái đóa hoa Vô ưu th́ sanh Thái tử Tất Đạt Đa, đó là ngày Rằm tháng Tư năm 624 TTL. Nơi đây, cuối thế kỷ 19 ngừơi ta đào được một trụ đá do vua A Dục ( Asoka ) dựng lên năm 250 TTL, xác nhận nơi đây Đức Phật đă Giáng sinh, nhờ đó các nhà nghiên cứu Tây phương tin chắc rằng Đức Phật là một nhân vật có thật.

II.- Cuộc đời thái tử Tất Đạt Đa

Thái Tử vừa mới sinh ra, đựơc ông tiên A TƯ Đà ( Asita ), tu trong rừng núi Hy mă lạp sơn đến thăm, sau đó ông cho vua Tịnh Phạn biết rằng nếu Thái Tử nối ngôi vua, sẽ trở thành một vị vua tài đức, làm cho nước giàu, dân mạnh; Nếu đi tu, sẽ trở thành một bâc đại giáo chủ. Sau khi sanh Thái Tử được 7 ngày th́ Hoàng Hậu Ma Gia từ giả cơi đời, Vua Tịnh Phạn giao Thái Tử cho d́ ruột của Ngài là Bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề nuôi dưỡng.

Tin lời của ông tiên A Tu Đà, vua Tịnh Phạn đă chăm sóc giáo dục Thái Tử trở nên văn vơ song toàn. Năm lên 16 tuổi, vua Tịnh Phạn cưới công chúa Gia Du Đà La ( Yasodhara ), con của một vị vua láng giềng cho Thái Tử, một thời gian sau công chúa Gia Du Đà La sinh môt Hoàng nam, được đặt tên là La Hầu La ( Rahula ), đó là môt người con duy nhất của Thái Tử Tất Đạt Đa.

Vua Tịnh Phạn cũng xây dựng những cung điện mùa Hè, mùa Đông cho Thái Tử nghỉ ngơi, vui chơi với những đoàn vũ nữ, ngày đêm múa hát. Nhưng tất cả những thứ đó trong cung vàng, điện ngọc cũng không làm cho Ngài vui măi đựơc.

III.- Những nhận thức của cuộc đời

Thái Tử muốn xem cảnh thành Ca Ty La Vệ, lần đầu tiên ra cửa Đông, ngài thấy một người già râu tóc bạc phơ, lưng c̣ng, gối mơi; dưới mắt ngài, người già trông thật xấu xí. Lần thứ hai ra cửa Nam, ngài thấy một người bệnh đang đau đớn oằn oại, rên la, kêu khóc vỉ cơn bệnh hành hạ. Lần thứ ba ra cửa Tây, ngài thấy một người chết, thân nhân kêu gào than khóc thảm thiết .

Thái Tử đă nhận thấy cảnh Già, Bệnh, Chết là một chuỗi kết nối của cuộc đời mà mọi người, ai cũng phải trải qua. Rồi một lần khác Thái Tử ra cửa Bắc, ngài thấy một Tu sĩ tướng mạo đoan trang, thong dong tiến bứơc.

Những cảnh Sanh, Già, Bệnh, Tử và h́nh ảnh của Tu sĩ cho Thái Tử một nhận thức cuộc đời là khổ, giàu sang, oai quyền cũng không tránh khỏi, có lẽ chỉ có sống một đời Tu sĩ mới t́m đựơc con đường thoát khổ và cứu giúp cho mọi người.

IV.- Đi t́m chân lư để thoát khổ

Thái Tử xin phép vua Tịnh Phạn cho Ngài xuất gia để trở thành Tu sĩ, vua cha không chấp thuận. Vào một đêm kia, Thái Tử lén nh́n vợ, con rồi cữi ngựa Kiền Trắc ( Kanthala ) cùng với tên giử ngựa Xa Nặc ( Sandaka ) trốn khỏi cung điện, đêm đó nhằm Mồng 8 tháng Hai. Đến bờ sông A Nô Ma, ngài cắt tóc, tháo những trang sức châu báu giao cả cho Xa Nặc, để mang về dâng lên Vua Tịnh Phạn. Ngài đă quyết chí đi t́m chân lư vào năm 19 tuổi.

Rồi ngài đến rừng Ưu Lâu Tần La bên bờ sông Ni Liên ( Nairanjanà ) bắt đầu tu khổ hạnh với các tu sĩ Kiều Trần Như, Ác Bệ, Thập Lịch Ca Diếp, Ma Ha Nam Câu ly và Bạc Đề, trăi qua nhiều năm tu khổ hạnh, Tu sĩ Tất Đạt Đa không t́m được chân lư như ngài mong muốn, một hôm Ngài xỉu v́ kiệt sức, một thiếu nữ tên là Tu Xà Đề thấy ngài như thế, có dâng cho ngài một bát cháo sửa, Ngài dùng bát cháo ấy và nhận thức rằng, người tu hành phải ǵn giử thân xác quân b́nh để phát triển trí tuệ, từ đó ngài bỏ lối tu khổ hạnh, năm người bạn kia cũng rời bỏ Ngài.

Ngay sau đó, ngài đến sông Ni Liên Thuyền tắm rửa cho thân xác sạch sẻ, rồi tiến đến cây Bồ đề để ngồi thiền. Ngài đă nguyện rằng: " Nếu ta không t́m ra chân lư th́ quyết không rờI khỏi cây Bồ đề nầy ". Một lần Ngài đă ngồi tĩnh tọa tham thiền luôn trong 49 ngày đêm, cuối cùng chiến thắng Ma vương chứng quả Niết Bàn, đó là vào lúc canh Tư ngày mồng 8 tháng Chạp năm 594 TTL, năm đó ngài được 35 tuổi. Từ đó người ta tôn xưng ngài là Phật, là một bậc Đại Giác ngộ, thoát khỏi sinh tử, luân hồi. Nơi ngài thành đạo, nay là Bồ Đề Đạo Tràng .

V.- Sự hoằng hóa chúng sinh

Sau khi thành đạo, Ngài đă đến Vườn Lộc Uyển để giảng đạo cho 5 người cùng tu lúc trước. Bài thuyết pháp đầu tiên là TỨ DIệU ĐẾ, ngài vạch rơ 4 chân lư: Sanh, Già, Bệnh, Chết là Khổ và muốn giải thoát phải tu theo BÁT CHÁNH ĐạO, do vậy mà thời Pháp nầy c̣n gọi là chuyển Pháp Luân, và dùng biểu hiệu bánh xe với 8 chiếc câm.

Khi tại thế, Đức Phật đi hoằng hóa nhiều nước trong xứ Ấn Độ, đệ tử xuất gia của ngài có đến 1250 vị, trong đó có Bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề, công chúa Gia Du Đà La, Hoàng Tử La Hầu La, ngoài thường dân ra, nhiều vị Quốc Vương, Hoàng Hậu, Thái Tử, Công Chúa, và các đại thần của nhiều nước theo quy y với Ngài. Đức Phật giảng dạy nhiều vấn đề cho người ta tu học, người sau chia thành 5 thời thuyết Pháp: Thời kỳ thứ nhất trong 21 ngày, ngài thuyết Kinh Hoa Nghiêm cho đại chúng tu theo Tiểu thừa. Thời kỳ thứ hai trong 12 năm, ngài thuyết Kinh A Hàm, nói về Tam Thừa. Thời thứ ba trong 8 năm, ngài thuyết kinh Phương Đẳng, để dẫn dắt Tiểu Thừa qua Đại Thừa. Thời kỳ thứ tư trong 22 năm , ngài thuyết kinh Bát Nhă, nói về chân lư vũ trụ, cái thật tướng " Vô Tướng" của các pháp. Thời kỳ thứ năm trong 8 năm, ngài thuyết Kinh Pháp Hoa và Niết Bàn, kinh Pháp Hoa nói rơ nguyên nhân phật giáng sinh là để " Mở đường, chỉ lối cho chúng sanh giác ngộ để nhập vào sự hiểu biết của Phật " ( Khai, Ngộ, Nhập, Tri kiến Phật ).

Vi.- Nhập Niết Bàn

Phật đă hóa độ chúng sanh trong 45 năm, rồi Ngài đến rừng Sa la trong xứ Câu Ly để kiết hạ, một hôm có ông Thuần Đà làm nghề đốt than, thỉnh Phật về nhà cúng dường, ngài dùng một bát cháo nấm, nấm nầy có tên là " Nấm heo rừng ", sau đó ngài từ giả ông Thuần Đà để đi đến rừng Sa La, đến nơi Ngài treo vơng lên hai cây Sa La nằm, ngài bảo cho ông A Nan biết, ngài sắp nhập Niết Bàn, nhiều người nghe tin ấy, đến nơi viếng ngài, trong đó có ông Tu Bạt Đà La (Subhadra) xin thọ giới Sa di, ngài nhận cho, đó là vị đệ tử xuất gia cuối cùng của Phật. Sau đó Ngài phó chúc:

Dặn ḍ xong, đức Phật nằm quay đầu về hướng Bắc, ḿnh nghiêng phía tay phải, mặt về hướng Tây, hai chân duỗi về phương Nam, ngài nhập định rồi vào Niết Bàn, nhằm ngày Rằm tháng Hai năm 544 TTL. Năm đó ngài tṛn 80 tuổi, Phật Lịch được lấy kể từ năm nầy.

Sách tham khảo:

Thích Thiện Hoa, Phật Học Phổ Thông, khóa I & II THPG. TP. HCM, 1989.
Thích Minh Châu, Thiên Ân, Chơn Trí, Đức Tâm Phật Pháp, THPGVN, Sàig̣n, 1951
Thích Thanh Kiểm, Lược sử Phật Giáo Ấn Độ, Vạn Hạnh xuất bản, Sàig̣n, 1963.
Thích Trí Chơn, Cuộc Đời Đức Phật, GHPGVNTNHNTHK VHV, California, 1994.

Trở về Mục Lục Phật Pháp