Phật giáo Việt Nam

I.- Thời kỳ khởi thủy

Căn cứ theo sách LƯ HOẶC LUẬN của Mâu Tử, một cuốn sách nói về Phật Giáo ở đất Giao Châu (Việt Nam thời Bắc thuộc), khi ông cũng như một số người chạy sang Việt Nam để lánh nạn giặc giả bên Trung Quốc, Mâu Tử cùng mẹ đến đây vào khoảng năm 195, nội dung LƯ HOẶC LUẬN cho thấy Phật Giáo ở Giao Châu lúc đó đă được truyền bá từ lâu. Lại nữa, có Khương Tăng Hôi, gốc người Ấn, cha mẹ đến Giao Châu buôn bán, có thể ông sinh tại đây. Năm lên 10 tuổi, cha mẹ đều qua đời, ông đi tu tại Giao Châu, đến năm 247 sang đất Ngô của Tôn Quyền để truyền bá đạo Phật, ông có dịch kinh từ chữ Phạn ra chữ Hán.

Như vậy chứng tỏ rằng Phật Giáo đă được truyền sang Việt Nam, do các nhà sư người Ấn từ thế kỷ II. Thời đó Luy Lâu ( huyện Thuận Thành tỉnh Hà Bắc ngày nay ) là một trung tâm chính trị ( trị sở của Thái Thú ), thương măi ( nơi tập trung buôn bán, trao đổ hàng hóa với Trung Quốc và Ấn Độ ), tôn giáo ( đạo Phật, Khổng, Lăo ).

Về sau, nhiều nhà sư Ấn Độ khác, theo đường biển đến Giao Châu rồi mới sang Trung Hoa truyền đạo, nhiều vị Tăng Trung Quốc đi sang Ấn Độ để chiêm bái Phật tích và học tập, thu thập kinh điển, gọi là " Nhập Trúc cầu Pháp ", cũng ghé qua Giao Châu trước khi đến Ấn Độ.

II.- Phật Giáo Trung Quốc truyền sang Việt Nam

1) Thời kỳ đầu: Phật Giáo Trung Quốc khởi thủy truyền vào Việt Nam là thời kỳ Bắc thuộc lần thứ hai, dưới thời cai trị của Thái Thú Sĩ Nhiếp ( 187-226 ). C̣n bên Trung Hoa, vào năm 67, Vua Minh Đế đời Hậu Hán có sai Tướng Thái Hâm, Vương Tuân, Tần Cảnh cả thảy 18 người sang Tây vực thỉnh kinh, dọc đường họ gặp hai Ngài Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan tải kinh bằng ngựa trắng đi về phía Đông truyền đạo, họ đă thỉnh hai vị nầy về Trung Quốc, Vua cho lập môt nơi đẻ thờ Phật và dành cho hai vị nầy ở để dịch kinh, được đặt tên là Bạch Mă Tự. Mặc dù vậy, năm 247 Khương Tăng Hội từ đất Giao Châu, sang Đông Ngô truyền đạo, chứng tỏ Phật Giáo Trung Hoa chưa phát triển. Việt Nam sau đó có ngài Chi Lương Cương đến truyền đạo năm 255 và ngài Ma Ha Kỳ Cực đến Việt Nam năm 294, sự tích của ngài có ghi lại truyện Man Nương trong sách Lĩnh Nam Trích Quái của Trần Thế Pháp.

Phật Giáo Việt Nam thời kỳ sau đó, có những vị Tăng thông cả chữ Phạn và Hán, nên cũng đă đi " Nhập Trúc cầu Pháp " như là ngài Văn Kỳ, Khuy Xung, Huệ Diệm, Trí Hành, Mộc Xoa Đề ( Việt Nam ), Đại Thặng Đăng.

2) Thiền Tôn Truyền Sang Việt Nam : Tổ Bồ Đề Đạt Ma đến Trung Quốc năm 520, để truyền bá Phật Giáo, vua Lương Vơ Đế có thỉnh ngài vào cung giảng đạo, tiếc rằng vua không được khai ngộ, sau ngài đến Tung Sơn truyền Y Bát cho Huệ Khả, ngài Bồ Đề Đạt Ma là vị Tổ truyền thừa thứ 28 kể từ Tổ Ca Diếp trở xuống, cũng là vị Đệ nhất tổ của Thiền Tông Trung Hoa. Khoảng cuối thế kỷ IX, Thiền Tông Trung Hoa chia thành 5 tôn: Qui ngưỡng tôn, Lâm tế tôn, Pháp nhăn tôn, Vân môn tôn và Tào động tôn. Thiền Tôn là một trong nhiều tông phái Phật Giáo của Trung Hoa.

A) Phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi : Ở Việt Nam, trước tiên có đệ tử của Đệ tam tổ Tăng Xán là T́ Ni Đa Lưu Chi, sang ở Chùa Pháp Vân năm 580, để truyền bá Thiền Tông, ông là người Nam Ấn, đến Trường An năm 574, sau đó thụ pháp với ngài Tăng Xán, được truyền tâm pháp, rồi sang Việt Nam lập thành phái Thiền T́ Ni Đa Lưu Chi.

Phái nầy truyền thừa đến đời thứ 19 là Thiền Sư Y Sơn, ngài tịch năm 1213 và thất truyền từ đó. Phái nầy có những Thiền Sư như Pháp Thuận đời thứ 10, được vua Lê Đại Hành sắc phong ngài giữ việc tiếp đón Sứ thần Trung Hoa, sư Vạn Hạnh đời thứ 12, được vua Lư Thái Tổ phong làm quốc sư và Ngài Viên Thông đời thứ 18, cũng được vua Lư Anh Tông sắc phong quốc sư.

B) Phái Vô Ngôn Thông : Đệ tử của Tổ Bách Trượng đời thứ 9 là Thiền sư Vô Ngôn Thông, ngài đến Việt Nam năm 820, truyền được đến đời thứ 15 th́ bị thất truyền.

Phái nầy có ngài Ngô Chân Lưu được vua Đinh Tiên Hoàng phong làm Tăng Thống, sau lại phong tức hiệu Khuông Việt Đại Sư, Măn Giác Thiền sư cũng thuộc phái nầy, vua Lư Thái Tông thụ giáo với thiền sư nầy.

C) Phái Thảo Đường : Minh Giác Thiền Sư là đệ tử của ngài Tuyết Đậu, húy Trọng Hiển, hiệu Ẩn Chi tu ở núi Tuyết Đậu, từ Trung Hoa sang Chiêm Thành truyền Đạo. Năm 1044, Lư Thánh Tông đánh Chiêm, quân ta bắt được tù binh đem về kinh trong đó có Minh Giác thiền sư, về sau biết ngài là thiền sư Trung Hoa liền thả ra, ngài thành lập phái thiền Thảo Đường và vua Lư Anh Tông phong cho ngài là Minh Giám Đại sư, Vua Lư Thánh Tông cũng thụ giáo với phái Thảo Đường, phái nầy truyền đến 5 đời th́ dứt.

Thiền Tông sau khi phân phái, những phái Tào động, Lâm Tế . . . đều có truyền đến Việt Nam nhưng chỉ có phái Lâm tế là thịnh hành hơn cả, ngày nay vẫn c̣n truyền thừa.

III.- Phật Giáo qua các thời đại.

1) Thời kỳ Bắc Thuộc đến cuối nhà Ngô ( 43-965 ) : Phật Giáo du nhập vào Việt Nam là thời kỳ nước ta bị Trung Quốc đô hộ, có các nhà sư Ấn Độ, Trung Hoa sang truyền đạo ở Việt Nam. Đến đời Lư Nam Đế ( 544-548 ) có phái Thiền T́ Ni Đa Lưu Chi đựơc thành lập, thời kỳ nầy có 6 vị Tăng Việt Nam " Nhập Trúc cầu Pháp ".

2) Nhà Đinh ( 968-980 ) : Đinh Tiên Hoàng có nhiệt tâm với Phật Giáo , phong cho ngài Chân Lưu chức Tăng Thống lại sắc phong là Khuông Việt Đại sư, ban cho Tăng Ma Ni tước hiệu Tăng Lục Đạo Sĩ và ngài Huyền Quang tước hiệu Sùng Chân Uy Nghi, theo đó nhà Đinh đă định giai cấp Tăng lữ. Có lẽ từ đây Phật Giáo Ấn Độ đă suy yếu dần, nên không có các nhà sư sang truyền đạo ở Việt Nam. Riêng Trung Quốc vẫn tiếp tục truyền bá đạo sang Việt Nam.

3) Nhà Tiền Lê ( 980-1009 ) : Vua Lê Đại Hành thường thỉnh Tăng Thống vào triều để bàn hỏi việc nước, sau khi ḥa với nhà Tống, vua sai sứ sang Trung Hoa thỉnh Đại Tạng kinh.

4) Nhà Lư ( 1010-1225 ) : Lư Thái Tổ tức Lư Công Uẩn, ngài là con nuôi của sư Lư Khánh Vân, cho nên sau khi lên ngôi ngài lo hoằng dương chánh pháp, xây cất chùa chiền, sai sứ sang Trung Hoa thỉnh kinh. Trong thời kỳ nầy có Vạn Hạnh Thiền sư. Bốn vị vua đầu nhà Lư đều có nhiệt tâm pháp triển Phật Giáo.

Năm 1049, vua Lư Thái Tông cho xây chùa Diên Hựu tức chùa Một Cột ở Hà Nội ngày nay. Lư Thánh Tông được đắc pháp với phái Thảo Đường. Bốn vị vua sau vẫn tôn sùng Đạo Phật, nhưng không có ǵ xuất sắc. Riêng Huệ Tông, năm 1224, sau khi nhường ngôi cho Lư Chiêu Hoàng, rồi xuất gia tu ở chùa Chân Giáo tự xưng là Huệ Quang Đại Sư, sau bị Trần Thủ Độ ép, ông phải treo cổ tự tử.

5) Nhà Trần ( 1225-1400 ) : Trần Thái Tông rất mộ đạo, có lần ông bỏ ngôi vua, lên núi Yên Tử tu, Thủ Độ phải ép ngài về cung, Thái Tông có viết 2 cuốn sách: Thiền Tông Chỉ Nam là sách nói về Thiền, c̣n Khóa Hư Lục giải rơ về h́nh tướng của Tứ Khổ: Sanh, Lăo, Bệnh, Tử.

Sau khi nhường ngôi cho con năm 1293, đến năm 1299, Trần Nhân Tông lên núi Yên Tử tu lấy pháp hiệu là Trúc Lâm Đại Sĩ biệt hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà, cũng được tôn xưng là Trúc Lâm Điều Ngự, ông lập phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử, nhiều người cho rằng đây là Thiền Tông Việt Nam. Hồi c̣n là Thái Tử, ông đă được cậu ruột là Tuệ Trung Thượng Sĩ giảng dạy về giáo lư Đạo Phật. Sau đó ông truyền tâm pháp cho Pháp Loa, Pháp Loa truyền cho Huyền Quang, khi ấy Huyền Quang đă 77 tuổi, không thích hợp " Tổ đăng truyền ", ông lui về Côn Sơn tu được 4 năm th́ tịch, ḍng Trúc Lâm thất truyền. Đến Trần Anh Tôn, Phật Giáo bị pha trộn ngoại đạo và v́ Nho học hưng thịnh, nên Phật Giáo dần dần suy yếu.

6) Nhà Hồ ( 1400-1407 ) và thuộc nhà Minh ( 1414-1427 ) : Hồ Qúy Ly lên ngôi được 7 năm th́ nhà Minh sang chiếm nước ta, năm 1416 quân Minh tịch thu hết sách vở, trong đó có cả kinh Phật đem về Kim Lăng, chùa chiền bị đốt phá.

7) Từ Hậu Lê đến Tây Sơn ( thế kỷ XV-XVI ) : Thời gian nầy, Phật Giáo chỉ là h́nh thức cho người ta tín ngưỡng mà thôi.

8) Thời Trịnh-Nguyển phân tranh ( thế kỷ XVI-XVIII ): Ở Đàng Ngoài, có Hương Hải làm Tri phủ huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, sau khi từ quan xuất gia đầu Phật, ông theo học đạo với Thiền Sư Viên Cảnh ở Lục Hồ, được ban pháp danh là Hương Hải Minh Châu rồi lại học thiền với Thiền Sư Viên Khoan ở Quảng Trị. Sau ông nổi tiếng uyên thâm về Đạo Phật, được Chúa Trịnh rước ra Bắc và Vua Lê thỉnh vào cung giảng đạo.

Ở Đàng Trong, có ngài Nguyên Thiều thuộc phái Lâm Tế đời thứ 33 ở bên Tàu, trước tiên ngài đến chùa Kim Cương ở gần núi Bửu Long, Biên Ḥa, nay c̣n có Tháp của Ngài ở đó ( phải chăng là Tháp Vọng ? ), sau ra B́nh Định xây chùa Di Đà, Thập Tháp; rồi ngài lần ra Thừa Thiên lập chùa Hà Trung, cuối cùng đến Kinh Đô Huế lập chùa Quốc Ấn.

Vua, chúa đều tôn kính đạo Phật, theo đó các quan cũng tin theo, nhờ vậy mà lần lần Phật Giáo đă phục hưng.

9) Nhà Nguyển ( 1802-1945 ) : Sau khi Gia Long lên ngôi, cho sửa lại chùa Linh Mụ, vua Thiệu Trị cho xây chùa Diệu Đế, vùng đất Hoàng Triều cương thổ ở Đà Lạt có chùa Linh Sơn, ở Ban Mê Thuộc có chùa Khải Đoan. Hoàng Đế Bảo Đại là Hội Trưởng danh dự của An Nam Phật Học Hội, nói chung Phật Giáo triều Nguyễn đều lo xây cất chùa chiền, kính Phật, trọng Tăng.

IV.- Ảnh hưởng của Phật Giáo.

Qua các triều đại, nhiều thời kỳ văn học nghệ thuật, chúng ta thấy Phật Giáo để lại nhiều ảnh hưởng trong đời sống và nền văn hóa Việt Nam, nhiều nhà sư đă được các vị vua phong tặng chức tước như Khuôn Việt Đại Sư, Vạn Hạnh Quốc Sư, Minh Giám Quốc Sư, Viên Thông Quốc Sư. . . Di tích có Đài Liên Hoa của Chùa Một Cột, Chùa Linh Mụ ( Huế ), Chùa Trăm Gian ( Hà Tây ), Tháp Phổ Minh ( Nam Hà ), Gác chuông Chùa Keo ( Thái B́nh ) đều là những kiến trúc nghệ thuật, trong Ca dao và thi ca của Măn Giác, Huyền Quang Thiền sư. . . c̣n có tác phẩm của Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều. . . đều toát lên giáo lư Đạo Phật, ảnh hưởng rất sâu rộng trong đời sống dân gian Việt Nam.

V.- Công cuộc chấn hưng Phật Giáo

Từ Phật Giáo Tích Lan chấn hưng, những bài báo của các bậc trí giả viết bằng Anh ngữ về Phật Giáo Tích Lan, đă được phổ biến sang Anh Quốc, các nhà trí thức Âu Mỹ đần dần biết đến Phật Giáo, Phật Giáo bắt đầu truyền sang Tây phương.

Ở Trung Hoa, Phật Giáo cũng được chấn hưng, nhờ vậy mà nó gây ảnh hưởng cho các bậc trí giả Việt Nam theo phái tân học, làm cho Phật Giáo Việt Nam chuyển ḿnh phục hưng vào những thập niên đầu của thế kỷ thứ 20.

Năm 1920, một số trí giả cùng hai vị Tăng là ngài Khánh Hoà và Thiện Chiếu lập ra HộI Lục Hoà, mục đích là đoàn kết, giúp đỡ và t́m hiểu t́nh h́nh Phật Giáo trên thế giới và trong nước. Sư Khánh Hoà chủ trương tạp chí Pháp Âm, sư Thiện Chiếu là giáo thọ chùa Linh Sơn Sàig̣n ra nội san Phật Hoá Tân Thành Niên, phương tiện truyền bá là chữ quốc ngữ dễ phổ biến đến đại chúng và những người tân học.

Năm 1928, Ḥa Thượng Khánh Hoà cùng Ḥa Thượng Huệ Quang ( Trà Vinh ), Ḥa Thượng Từ Nhẫn ( Long An ), Chơn Huệ ( Mỹ Tho ), Thiện Chiếu ( Sàig̣n ), Cư sĩ C̣m-mi Trần Nguyên Chấn, Thái B́nh Ngô Văn Chương tổ chức Lâm Thời Phật Học Viện và Thư xă phường tại chùa Linh Sơn, sau đó ấn hành tạp chí Pháp Âm, số ra mắt ngày 31-8-1929.

Đến năm 1930, Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học được thành lập tại chùa Linh Sơn Sàig̣n, lănh đạo có Ḥa Thượng Khánh Ḥa, Huệ Quang, Trí Thiền, C̣m-mi Trần Nguyên Chấn, đến ngày 26-8-1931 Hội mới được Thống Đốc Nam Kỳ kư giấy phép. Hội xuất bản tạp chí Từ Bi Âm, thỉnh Tam Tạng kinh ở Trung Quốc. Cũng năm nầy, Thiền Tông Giáo Hữu Hội do Ḥa Thượng Tuệ Đăng, trụ tŕ chùa Thiên Thai Bà Rịa thành lập, Hội xuất bản tạp chí Bát Nhă Âm.

Năm 1933 Ḥa Thượng các chùa Long Ḥa ( Trà Vinh ), Thiên Phương ( Trà Ôn ), Viên Giác ( Bến Tre ) thành lập Liên Đoàn Học Xă có mục đích nghiên cứu giáo lư và đào tạo tăng ni.

Năm 1933, HT Khánh Anh rời khỏi Sàig̣n, về Hậu Giang để cùng HT Huệ Quang, ông huyện Huỳnh Thái Cửu, ông Ngô Trung Tín thành lập Hội Lưỡng Xuyên Phật Học tại Trà Vinh, giấy phép do Thống Đốc Nam Kỳ kư ngày 1-3-1934. Hội có mục đích sưu tầm kinh điển, đào tạo tăng tài. Năm sau mở Phật Học Đường và tạp chí Duy Tâm Phật Học. Một số Tăng được Hội chọn gửI ra Phật Học Đường Tây Thiên của Sơn Môn ở Huế, để tu học như Hoà Thượng Thiện Hoà, Thiện Hoa. . .

Ở Trung Kỳ năm 1932, An Nam Phật Học Hội được thành lập tại chùa Trúc Lâm, sau dời về Từ Quang. Năm 1938 dời về chùa Từ Đàm. Hội do HT Giác Tiên và Cư sĩ Tâm Minh tức Bác sĩ Lê Đ́nh Thám đứng đầu thành lập, năm sau Hội xuất bản tạp chí Viên Âm, Hội đă thành lập Ban Đồng Ấu Phật Giáo năm 1932, Đoàn Phật Học Đức Dục, năm 1943 thành lập Gia Đ́nh Phật Hóa Phổ, đến năm 1951 đổi danh xưng là Gia Đ́nh Phật Tử, một đoàn thể giáo dục Thanh Thiếu Niên rất hữu ích. Hội mở trường Bồ Đề để đào tạo Tăng Ni; sau lại mở Phật Học Đường Bảo Quốc.

Sơn Môn Huế ( Tăng già ) có trường Tây Thiên, do HT Phước Huệ ở chùa Thập Tháp B́nh Định được HT Giác Tiên mời ra làm Đốc giáo và giảng dạy.

Ở Bắc, Bắc Kỳ Phật Giáo Hội được thành lập vào ngày 23-12-1934, nhằm ngày vía Đức Phật A Di Đà 17-11 năm Giáp Tuất, trụ sở đặt tại chùa Quán Sứ Hà Nội, do Tổng Đốc hồi hưu Nguyễn Năng Quốc làm Hội Trưởng. Năm sau Hội xuất bản tạp chí Đuốc Tuệ, ngoài ra c̣n có các tạp chí Bồ Đề Tân Thanh và Tiếng Chuông Gọi Sớm do các cư sĩ chủ trương. Hội mở trường Tăng tại chùa Quán Sứ, trường Ni tại chùa Bồ Đề, lập Cô Nhi Viện cũng tại chùa Quán Sứ, những vị đứng đầu Hội có HT Vĩnh Nghiêm, Thanh Hạnh, Tuệ Tạng, Mật Ứng, Đức Nhuận, Tố Liên, Trí Hải, cư sĩ có các ông Nguyễn Năng Quốc, Thiền Chửu, Bùi Kỷ, Dương Bá Trạc, Trần Trọng Kim, Trần Văn Giáp, Phan Kế Bính, Bùi Thiện Cơ. Tháng 5 năm 1945 đổi ra Hội Việt Nam Phật Giáo.

Năm 1950, Việt Nam tham gia Hội Nghị Phật Giáo, họp tại Colombo, Thủ đô Tích Lan để thành lập Hội Phật Giáo Liên Hữu Thế Giới, Việt Nam là Hội viên sáng lập Hội nầy.

Ngày 25-2-1951, Hội Phật Học Nam Việt do một số quư vị Tăng Già và cư sĩ thành lập tại chùa Khánh Hưng ( 390/8,Q.3 ), sau dời về chùa Phước Hoà ( 491/14/5 Nguyễn Đ́nh Chiểu Q.3 ), sau cùng năm 1958, lại dời về chùa Xá Lợi. Hội đầu tiên do Bác sĩ Nguyễn Văn Khoẻ làm HộI Trưởng, kế tiếp là Thầy Quảng Minh ( sau Thầy du học ở Nhật rồi hoàn tục bên ấy ) và sau nữa là cụ Chánh Trí Mai Thọ Truyền. Hội có xuất bản tạp chí Từ Quang.

Ngày 6-5-1951, tại chùa Từ Đàm Huế, một Đại Hội Phật Giáo đă được triệu tập có 51 đại biểu gồm quư vị Tăng Già và Cư sĩ Bắc, Trung, Nam đă thành lập Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam, trụ sở có lúc đặt tại chùa Ấn Quang, đến năm 1958 dời về chùa Xá Lợi. Tổng Hội có xuất bản tạp chí Phật Giáo Việt Nam.

Ngày 5-6-1951, Giáo Hội Tăng Già Nam Việt được thành lập, trụ sở đặt tại chùa Ấn Quang, nơi đây cũng là Phật Học Đường Ấn Quang, về sau có Phật Học Đường Huệ Quang nằm trong khu vực Phú Lâm ( đối diện Xa Cảng Miền Tây ).

VI.- Phật Giáo Việt Nam cận và hiện đại.

Ngoài Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam ra, cũng c̣n nhiều tông phái khác như Giáo Hội Phật Giáo Nguyên Thuỷ, Tịnh Độ Tông, Tịnh Độ Cư Sĩ ... Nhưng Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam là một tổ chức hoạt động hữu hiệu, mạnh nhất trong cả nước. Vào dịp Phật Đản năm 1963, tại Đài phát thanh Huế, đă xảy ra việc " xe tăng cán chết một số Phật tử " , đó là sự kiện " kỳ thị và đàn áp Phật Giáo" Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo được thành lập tại chùa Xá Lợi, để đ̣i hỏi chánh phủ Ngô Đ́nh Diệm thi hành chánh sách tự do tín ngưỡng, thi hành b́nh đẳng tôn giáo.

Để thúc đẩy cho cuộc tranh đấu được kết quả tốt đẹp, HT Thích Quảng Đức tự thiêu ngày 11-6-63, nhiều cuộc biểu t́nh xảy ra cả miền Nam nhất là Sàig̣n, nữa đêm 20-8-1963 chánh quyền bắt tất cả quư Tăng trong UBLPBVPG và phong tỏa nhiều chùa chiền trong cả nước, Liên Hiệp Quốc phải cử một phái đoàn sang Việt Nam, để điều tra về việc kỳ thị và đàn áp tôn giáo nầy. Đến ngày 1-11-1963, Quân đội nổi lên lật đổ chánh phủ, quư vị lănh đạo được đưa về Chùa.

Ngày 20-11-1963, có 11 Hội đoàn Phật Giáo đă tham dự Đại Hội Phật Giáo tại Chùa Xá LợI, kư Hiến Chương thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Hiến Chương nầy tu chỉnh vào kỳ Đại hội 14-12-65. Đến năm 1967 lănh đạo Giáo Hội bị phân hoá v́ cuộc chiế tranh Ư thức hệ, phân thành Giáo Hội Ấn Quang và Việt Nam Quốc Tự. Trong thời kỳ nầy nhiều chùa chiền và cơ sở vật chất đă được xây dựng như chùa Vĩnh Nghiêm đồ sộ, với những mái cong, đường nét biểu trưng cho kiến trúc Phật Giáo Việt Nam, Trung Tâm Văn Hóa Thích Quảng Đức, nhiều trường Bồ Đề và Viện Đại Học Vạn Hạnh ngay tại Thủ đô Sàig̣n, chăm lo đào tạo Tăng tài và truyền bá Văn Hoá Phật Giáo.

Sau khi Cộng sản chiếm miền Nam, GHPGVNTN không c̣n hoạt động được nữa. Ngày 4-11-1981, 160 đại biểu Họp ở Hà Nội để thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam thuộc Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam của Cộng sản. Sau khi HT Đôn Hậu, chánh Thư kư Viện Tăng Thống, xữ lư thường vụ lưỡng viện GHPGVNTN viên tịch tại chùa Linh Mụ ngày 23-4-1992, phong trào đău tranh của Phật Giáo với Cộng sản bộc phát. Từ năm 1975, nhiều vị Tăng Việt Nam đă ra Hải ngoại, lánh nạn Cộng sản, để hoằng đương chánh pháp ở Hải ngoại và hổ trợ cho Phật Giáo ở trong nước.

Ở hải ngoại, nhiều vị Tăng có khuynh hướng khác nhau, đă thành lập nhiều Giáo Hội khác nhau, chẳng hạn như Giáo Hội Tăng Già Việt Nam Trên Thế Giới, Giáo Hội Phật Giáo Tăng Già Khất Sĩ Thế Giới, Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam Tại Hoa Kỳ, Giáo Hội Liên Tông Phật Giáo Việt Nam Tại Hoa Kỳ, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ, Úc, Âu Châu. . . Gần đây những nhà lănh đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất trước kia, đă có những buổi họp, ra Tuyên ngôn thống nhất một số quan điểm và gửi về Việt Nam một lá thư cho lănh đạo Phật Giáo tại quê nhà, để tán dương công đức đào tạo Tăng tài, để ca ngợi sự gian lao trong đấu tranh cho Tự do tín ngưỡng, bảo vệ Nhân quyền.

Mặc dù có những khó khăn ở trong nước, ở Hải ngoại c̣n những bước ban đầu, nhưng tất cả đều cố gắng, quan tâm đến việc đào tạo Tăng tài, xây dựng chùa chiền. Chúng ta có được một niềm tin: Tiền đồ Phật Giáo Việt Nam sẽ xán lạn trên toàn Thế giới.

Phúc Trung * Phật Lịch 2539, Louisville 20-10-1995

Sách tham khảo :

Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược, Đại Nam, Hoa Kỳ
Nam Thanh, Cuộc tranh đấu lịch sử của PGVN , LSNCPHH, Sàig̣n, 1964.
Tuệ Sỹ, Việt Nam Phật Giáo, Ban Tu Thư Viện Đại Học Vạn Hạnh, Sàig̣n, 1968.
Nhiều Tác giả, Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam, VTH UBKHXHVN, nxb KHXH, Việt Nam 1988.

Trở về Mục Lục Phật Pháp